Diện tích rừng suy giảm nghiêm trọng
Nếu như nhắc lại lịch sử của vùng rừng tràm bạt ngàn U Minh thì phải kể từ hơn 300 năm về trước. Một vài con số thống kê để dẫn chứng về sự suy giảm quá nhanh của diện tích rừng tràm: cả rừng UMT và U Minh Hạ vào năm 1950 có khoảng 300 - 400 nghìn ha, năm 1990 còn khoảng 100.000 ha, đến năm 2000 chỉ còn lại hơn 10.000 ha. Vườn Quốc gia UMT (còn gọi là Vùng Lõi) được thành lập theo Quyết định số 11/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ rộng 8.038 ha, theo đánh giá của tổ chức CARE (Tổ chức phi chính phủ hỗ trợ các vấn đề y tế, phát triển nông thôn, phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai), năm 1998 còn khoảng 1.000 ha rừng tự nhiên, hiện nay diện tích này đang tiếp tục suy giảm. Từ năm 1997, Di tích lịch sử quốc gia căn cứ UMT nằm trong khu vực bảo tồn của Vườn Quốc gia UMT đã được công nhận càng tăng thêm giá trị của khu rừng được xem là "Khu vực duy nhất trong số những điển hình cuối cùng còn sót lại của kiểu rừng đầm lầy chứa than bùn ở Việt Nam" (CARE).
Từ những năm đầu thế kỷ 20, thực dân Pháp đã rất chú trọng đến nguồn tài nguyên của vùng UMT. Dựa trên đặc tính của đất rừng ngập nước trên nền than bùn, chính quyền thực dân đã thực hiện từng bước việc khai thác rừng tràm khu vực được hoạch định trở thành đất nông nghiệp lâu dài. Họ xẻ những con kinh lớn như Chắc Băng, Xẻo Rô và những trục phụ lưu, kinh mở đến đâu khai thác triệt để rừng tràm đến đó. Rừng tràm không thể tái sinh vì nước trữ ở chân rừng bị rút kiệt xuống các đường nước, sau nhiều năm đất rừng trở thành đất thuần nông. Đối với khu vực rừng tràm cần bảo tồn được quy hoạch, chính quyền chỉ cho phép những chủ thầu khai thác gỗ tràm mở những đường thủy vận chuyển dựa trên những đường nước tự nhiên, quanh co trong rừng. Những "đường thét" có độ dài lớn, diện tích bề mặt hẹp, độ sâu ít nên việc rút nước ở chân rừng vào mùa khô được hạn chế, giảm tối thiểu nguy cơ cháy rừng. "Đường thét" còn giúp điều tiết lượng nước ứ đọng ở chân rừng vào mùa mưa và giúp đưa nguồn giống thủy sản sinh trưởng dưới tán tràm phát tán một cách tự nhiên ra khu vùng. Nhờ vào việc điều tiết theo quy trình sinh học tự nhiên mà khu vực rừng tràm được bảo tồn và phát triển đều đặn.

Từ năm 1992, vùng đệm khu vực rừng UMT bao quanh khu vực Vùng Lõi gồm 13.291 ha đất canh tác nông nghiệp được thành lập nhằm hạn chế mối đe dọa ngày càng gia tăng do sự di dân tự do vào khu vực bảo tồn. Để phát triển kinh tế vùng đệm, nhiều dự án thủy lợi nội đồng, bờ bao, giao đất trồng rừng tái sinh, rau màu xen canh lúa và nuôi trồng thủy sản... được đẩy mạnh. Với tốc độ dân số tăng nhanh, giai đoạn đầu việc sử dụng đất đai ở trong vùng đệm chưa mang lại hiệu quả. Trong chừng mực nào đó, đời sống cư dân ở đây bị lệ thuộc vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên của khu bảo tồn. Khi khu vực Vùng Lõi được đặt dưới sự quản lý nghiêm ngặt của chính quyền, người dân quen sống dựa vào nguồn lợi của rừng bị cấm vào rừng khai thác. Do thói quen và nhu cầu mưu sinh, một số người đã lén lút vào rừng khai thác lâm sản trái phép. Những người này đã gây ra một số vụ cháy rừng lớn nhỏ, rồi chặt hạ hàng chục ha rừng tự nhiên mỗi năm, khiến cho diện tích và nguồn động thực vật ít ỏi còn lại của rừng tràm càng ngày càng cạn kiệt. Điều đó càng làm tăng áp lực lên các nguồn tài nguyên cần bảo tồn tại khu vực rừng tràm UMT.
Giải pháp ứng phó
Để bảo vệ Vùng Lõi, nhiều hệ thống kinh, đê bao kiên cố được hình thành nhằm khoanh vùng bảo vệ, giữ nước phòng, chống cháy rừng. Các con kinh này hầu như bị đóng kín quanh năm vì sợ không có nước, rừng sẽ dễ cháy. Hệ thống đê bao đã giúp ích trong việc ngăn chặn xâm nhập trái phép của người dân vào khai thác tài nguyên rừng, giúp ngăn cách các khu vực rừng khi có hỏa hoạn, tiện lợi cho việc đi lại trong rừng. Cách thức này dẫn đến một số hệ quả, làm ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sinh thái của rừng tràm và ý thức cộng đồng trong bảo vệ nguồn tài nguyên rừng. Một cuộc điều tra trước đây về khu vực này được tiến hành do chuyên gia tư vấn lâm nghiệp của Bộ Công nghiệp vùng Quyn-len (Queenland), Ô-xtrây-li-a, tiến hành vào tháng 7-1996 đã phát hiện bệnh úa vàng trên các mô lá cây và có dấu hiệu bệnh mục rễ đối với các cây ở bên ngoài khu vực rừng chính yếu. Điều này liên quan đến mực nước nhân tạo được giữ cao quanh năm và đặc biệt suốt mùa khô mà nếu ở trong các điều kiện tự nhiên thì lớp đất chứa than bùn phải được phơi khô đến một mức nhất định. Chuyên gia tư vấn trên cũng nhận thấy rằng trong số 400 ha mới được Ban Quản lý Vườn Quốc gia UMT trồng lại gần đây chỉ có rất ít cây con có thể chống chọi lại để tồn tại với các điều kiện khó khăn vốn là hậu quả của việc giữ cho mức nước cao quanh năm ở bên trong Vùng Lõi. Hiện tại ở khu vực rừng bảo tồn có rất nhiều vùng lõm gồm hàng chục ha tràm chết khô trong khi chân rừng vẫn ngập nước. Các loại động thực vật bị khu lập trong những khu vực nhất định không phát triển được theo quy trình tự nhiên, nguồn thủy sản giống không thể luân chuyển ra khu vực bên ngoài, vì vậy nguồn thủy sản nước ngọt nổi tiếng của vùng UMT đã trở nên khan hiếm. Ban Quản lý Vườn Quốc gia UMT cho biết, đến tháng 9-2009, sau khi hệ thống cống điều tiết nước được hoàn thành thì sẽ cải thiện được việc úng ngập chân rừng. Nhưng đợi được hệ thống điều tiết nước này mang lại hiệu quả thì có thêm bao nhiêu ha tràm nữa bị chết khô vì ngộp nước?

Một số hộ dân ở xã An Minh Bắc, xã Minh Thuận thuộc vùng đệm UMT năm nào cũng nhiều lần kêu với cơ quan quản lý xin mở cống xả nước vì lúa bị ngập úng, đất tái nhiễm phèn, bệnh dịch làm tăng nguy cơ gây mất mùa. Người dân vùng đệm đời sống bấp bênh, chủ yếu dựa vào lúa, chỉ cần mất một mùa đã lâm vào cảnh nợ nần. Bên cạnh đó, việc đóng các cửa đập khiến cho bà con gặp nhiều khó khăn trong vận chuyển hàng hóa và đi lại. Đường bộ thì chưa thể đi xe, đường thủy lại không đi được khiến nhiều hộ dân sinh sống trong khu vực không ít bức xúc. Song dù gặp nhiều khó khăn, họ cũng phải chấp nhận, vì đó là những việc cần làm để bảo vệ vườn quốc gia theo quy định.
Vườn quốc gia không chỉ là nơi bảo tồn mà còn là nơi để khai thác phát triển thông qua những hoạt động kinh tế, giáo dục được định hướng, đặc biệt là dịch vụ du lịch sinh thái và văn hóa. Hoạch định chiến lược bảo tồn môi trường sinh thái, khôi phục lại nguồn tài nguyên động thực vật phong phú của rừng UMT cần phải gắn với việc phát triển đời sống kinh tế của người dân địa phương. Việc cấp thiết trước mắt là phải có những nghiên cứu thực tế phù hợp với môi trường sinh thái của rừng tràm, ứng dụng được cả kinh nghiệm tri thức truyền thống của người dân địa phương và kiến thức khoa học. Là vùng có môi trường sinh thái đặc biệt, lại có nhiều di tích khảo cổ, di tích lịch sử nổi tiếng, rừng tràm UMT trở thành điểm thu hút nhiều du khách đến tham quan, tìm hiểu. Việc giao lưu kinh tế và văn hóa phát triển mạnh càng giúp cho du lịch trở thành một ngành mang lại nguồn thu đáng kể và tạo nhiều việc làm cho người dân địa phương. Cần có chiến lược lâu dài và những chương trình cụ thể để Vườn Quốc gia UMT vừa được bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia của người dân địa phương. Khi hiểu được giá trị của nguồn tài nguyên vô giá của rừng tràm và được hưởng những lợi ích từ nguồn tài nguyên nơi mình sinh sống, người dân sẽ tự giác tham gia bảo tồn.